Di tích - Lễ hội

Văn Miếu xưa ở Vĩnh Mỗ

Năm 1834, niên hiệu Minh Mệnh thứ 15, nhà Nguyễn cho thiết lập Văn miếu hàng huyện ở phía Đông gò Biện Sơn, xứ Đồng Đậu, xã Vĩnh Mỗ, huyện An Lạc, phủ Tam Đới, trấn Sơn Tây. Vua cho phép dựng bia, khắc rõ tên họ, quê quán các vị đại khoa trong hàng huyện. Trán bia tạc chữ to bằng bao diêm: BẢN HUYỆN TIÊN HIỀN TÍNH DANH KHOA THỨ KÝ.

 

Bia được gắn vào tường Văn Miếu để truyền lại đời đời, biểu dương thành tích học tập, xây dựng kỷ cương xã hội, phát triển văn hoá chính trị của các bậc tiên hiền, đồng thời gây tác dụng khích lệ việc bồi dưỡng nguyên khí quốc gia, quan tâm giáo dục đào tạo thế hệ trẻ, nêu theo gương sáng của cha ông trong làng xã.

Văn Miếu đặt ở xứ Đồng Đậu, phía Bắc có Gò Gai, gò Mã Hoà, phía Đông có gò Biện Sơn; phía Nam có gò Ngõ Bút. Nếu từ Vĩnh Yên đi xuống, Tứ Trưng đi lên thì bên trái là Vĩnh Tường, bên phải là Hương Canh và Phúc Yên, các nơi ấy cũng chỉ cách Đồng Đậu khoảng 12km.

Xem như vậy, tiền nhân ta đã chú ý thiết lập Văn Miếu Yên Lạc ở trung tâm tỉnh Vĩnh Phúc, có địa mạo đồng bằng. Nơi đất rộng, người đông, tứ dân an cư lạc nghiệp, chung quanh bao bọc núi non, sông ngòi, phong cảnh kỳ tú, “Long triều, hổ phục” thật là nơi quy tụ linh khí trời đất, vạn thuở vẫn huy hoàng.

Tục danh của Vĩnh Mỗ là Kẻ Mỏ. Nơi nổi tiếng về kinh tế nông nghiệp, văn hoá truyền thống, chính trị quân sự hiển hách. Chả thế mà ngạn ngữ có câu:
“Nam: Châu; Bắc: Dũng; Đông: Kỳ; Tây: Lạc”. Nghĩa là: Nam, có Châu Ninh ở Nam Định; Bắc có Yên Dũng ở Bắc Ninh; Đông có Tứ Kỳ ở Hải Dương; Tây có Yên Lạc ở Sơn Tây. Trong 4 nơi ấy, Yên Lạc trội hơn cả. Trung tâm Yên Lạc là Vĩnh Mỗ, vựa lúa của vùng đồng bằng Vĩnh Phúc.

Ngay từ năm 1124, niên hiệu Thiên Phù Duệ Võ thứ 5, đời vua Lý Nhân Tông khoa thi Giáp Thìn, Yên Lạc đã có người đỗ Trạng nguyên. Đến khi thực dân Pháp xâm lược, người Yên Lạc cùng Nguyễn Quang Bích, Tôn Thất Thuyết, Phạm Công Bình vẫn giữ được an ninh trật tự xóm làng, chống bạo loạn, không sao lãng việc học hành thi cử. Niên hiệu Tự Đức thứ 22, khoa Kỷ Tỵ (1869), Yên Lạc tiếp tục có người đỗ Tiến sĩ.

Từ năm 965, trong loạn 12 sứ quân, thành luỹ Nguyễn Gia Loan của Tướng công Nguyễn Khoan ở Vĩnh Mỗ làm nhiệm vụ bảo vệ tính mạng, của cải, cuộc sống yên vui của người dân Yên Lạc vùng Tam Đới.
Năm Minh Mệnh thứ 20 (1839), Vĩnh Mỗ trở thành huyện lỵ của huyện Yên Lạc. Năm Thiệu Trị thứ 3 (1843), Vĩnh Mỗ là trung tâm Hán học, có những nhà nho cự phách, hậu duệ họ Phạm, họ Nguyễn, họ Dương, họ Phùng. Căn cứ vào những yếu tố tích cực đó, Triều Nguyễn cho dựng Văn Miếu ở Vĩnh Mỗ, Đồng Đậu, Yên Lạc là sáng suốt.

Về quy mô Văn miếu cấp huyện, có nhà nước đầu tư, trở thành công trình cỡ quốc gia, nên Văn miếu Vĩnh Mỗ có khuôn viên ước chừng 3 mẫu Bắc Bộ, xây được nơi thờ tự 3 gian, tường gạch, cột lim, mái ngói, lập vườn cây, đào ao thả cá trồng sen, khơi mương, ngăn ruộng cấy lúa. Hội tư văn cử người trông coi, cúng tế “xuân thu nhị kỳ”. Trong Miếu thờ Khổng Tử và 4 vị tứ phối là Nhan Uyên, Tử Tư, Tăng Sâm và Mạnh Kha. Phía dưới dựng bia các tiên hiền huyện Yên Lạc. Hai bên Đông bích, Tây bích có kệ xếp sách, có xây thềm lát gạch, rải chiếu cho Hội Tư văn ngồi, họp bàn việc tế lễ, khuyến học, văn hoá làng xã. Các đồ tự khí, ngoài bình hương, cây nến, đài quả còn có cờ, quạt, tán, lọng, hai giá lộ bộ, biển đề chức tước các triều đại vua ban, cùng 3 bộ hoành phi câu đối.

Còn Văn chỉ thường được xây dựng đơn giản hơn ở cấp thôn làng. Khuôn viên vào độ 80m2, quây tường bao loan cao chừng 0,60m. ở giữa xây bệ thờ hình chữ nhật, cao 1,2m, hoặc xây hình ngai rồng, có gắn bình hương cố định. Hai bên bệ thờ còn có 2 bệ thấp hơn, dùng đặt đồ cúng tế. Tất cả trống thiên, không có mái che. Trước bệ, có 1 sân nhỏ đủ chỗ cho Hội Tư văn tế lễ hoặc rải chiếu ngồi đàm đạo. Những nơi ở Vĩnh Phúc còn vết tích Văn chỉ như:
Văn chỉ xã Cao Đại, Tam Phúc, Vũ Di, Văn Trưng (Vĩnh Tường); Văn chỉ làng Láp (Vĩnh Yên), Văn chỉ xã Sơn Bình (Lập Thach), xã Bá Hiến (Bình Xuyên)…

Lại nói về Văn miếu ở tỉnh ta thời cổ, có lẽ chỉ riêng huyện Yên Lạc mới đủ tiêu chuẩn thiên thời, địa lợi, nhân hoà để xây dựng. Đấy là ta chưa khảo sát kỹ các vùng lân cận được tách sang huyện khác, làm thay đổi bộ mặt văn hoá của Yên Lạc.

Sau khi thực dân Pháp bình định xong vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ, Vĩnh Yên được trở thành tỉnh lỵ, văn chỉ làng Láp, xã Định Trung mới được nâng cấp thành Văn miếu hàng tỉnh. Địa điểm ở vào khu vực trường PTTH Trần Phú hiện nay.

Về các bậc tiên hiền được tôn thờ tại Văn miếu huyện Yên Lạc (Vĩnh Mỗ, Đồng Đậu) thời Minh Mệnh, theo các thư tịch còn lại, xin thống kê như sau:

1. Phạm Công Bình xã An Lạc-  Trạng nguyên năm 1124

2. Nguyễn Tông Lỗi - xã Vĩnh Mỗ Tiến sĩ  năm 1448

3. Lê Ninh - xã Thụ ích Thám hoa năm 1478

4. Dương Tĩnh - xã Vĩnh Mỗ Tiến sĩ năm 1478

5. Nguyễn Trinh Biểu - xã Trung Kiên Tiến sĩ  năm 1478

6. Trần Hùng Quán - xã Nguyệt Đức Tiến sĩ năm 1490

7. Đào Sùng Nhạc - xã Liên Châu Tiến sĩ  năm 1490

8. Lê Chính  - xã Lạc Trung Tiến sĩ  năm 1493

9. Văn Vĩ  - xã Đại Tự Tiến sĩ  năm 1496

10. Tạ Hiển Đạo - xã Nguyệt Đức Tiến sĩ năm 1544

11. Phạm Du - xã Vĩnh Mỗ Tiến sĩ  năm 1547

12. Dương Đôn Cương - xã Vĩnh Mỗ Tiễn sĩ  năm 1547

13. Lê Hiến - xã Thụ ích Tiễn sĩ năm 1550

14. Nguyễn Phấn - xã Trung Kiên Tiễn sĩ  năm 1700

15. Nguyễn Viết Tú - xã Liên Châu Tiễn sĩ năm 1710

16. Phùng Bá Kỳ - xã Vĩnh Mỗ Tiễn sĩ  năm 1715

17. Nguyễn Khắc Cần - xã Trung Hà Tiễn sĩ  năm 1848

18. Đặng Văn Bảng - xã Hồng Châu Tiễn sĩ  năm 1853

19. Ngô Văn Độ - xã Liên Châu Tiễn sĩ  năm 1856

20. Hoàng Hữu Tài -  xã Hồng Châu Phó bảng năm 1862

21. Nguyễn Đức Kỳ - xã Yên Đồng Phó bảng năm 1865

22. Nguyễn Văn Ái - xã Liên Châu Tiến sĩ năm 1869

Các xã có tiên hiền trong bảng liệt kê này đều gọi địa danh theo tên mới ngày nay, để người làm công tác quản lý văn hoá và chính quyền địa phương trong huyện Yên Lạc dễ dàng nắm bắt được ngay danh tính các bậc khoa bảng ở xã mình, nâng thêm lòng tự hào về truyền thống văn hoá nơi quê hương, lại đỡ mất công tra cứu xem xét.

Riêng xã Vĩnh Mỗ, (xã Minh Tân nay là thị trấn Yên Lạc) vẫn ghi theo tên cũ. Bởi vì phần trình bày địa chí văn hoá - lịch sử địa phương đều dùng tên Vĩnh Mỗ cả, nếu dùng tên xã mới, e có sự ngỡ ngàng.

Xem như vậy, Yên Lạc dù có biến động ra sao, thì vẫn là vùng đất yên vui như tên gọi của nó. Yên Lạc có 1 bề dày văn hoá - lịch sử đáng kính nể, đấy là chưa nói đến Di chỉ khảo cổ học Đồng Đậu. Còn Vĩnh Mỗ, đúng là đất học, đất làm quan, tiếp tục duy trì, phát triển và trù phú đến ngày nay. Văn miếu Yên Lạc cần được phục chế lại cho đúng với tầm vóc vốn có của nó và cần đặt chỗ đứng hoành tráng trong thời kỳ hội nhập. Văn miếu Yên Lạc đã xẻ chia một phần danh nhân trong bia Tiến sĩ ở Quốc Tử Giám, sớm muộn phải trở thành địa điểm tham quan du lịch của Vĩnh Phúc.

 

 

Ban biên tập

 

(Sưu tầm)

 

Ngày đăng: 02/01/2019
  • Tiêu đề *
  • Người gửi *
  • Email*
  • Nội dung bình luận*