Di tích - Lễ hội

ĐỀN THÍNH

Di tích - Lễ hội

Đền Bắc Cung

    

          Đền Bắc Cung có tên nôm gọi là Đền Thính. Đền nằm trong hệ thống tứ cung thờ Tản viên Sơn Thánh (Sơn Tinh). Đền thờ chính trên núi Ba Vì gọi là trung cung hay chính cung. Tất cả đền thờ Ngài ở về phía Bắc gọi là Bắc cung, phía Nam gọi là Nam Cung, phía Tây gọi là Tây Cung, phía Đông gọi là Đông Cung. Yên Lạc ở phía Bắc, có hai đền thờ Ngài là Đền Tranh gọi là đền Bắc Cung Thượng, Đền Thính gọi là Bắc Cung. Các tên nôm Thính và Tranh đặt theo truyền thuyết. Tương truyền rằng khi Sơn Tinh đưa quân đi dẹp giặc đến địa điểm đền toạ lạc hiện nay vắt chanh với muối làm thức ăn cho quân nên gọi là Đền Tranh. Còn khi dừng chân ở đất Tam Hồng đã dạy quân rang gạo (thính) làm muối cho quân ăn, lại dạy dân làm nem, chạo mà gia vị chính là thính nên gọi là Đền Thính.

          Tản Viên Sơn Thánh-con rể của vua Hùng Duệ Vương đã cùng các bậc trung thần, tướng lĩnh tài ba trong phổ hệ bách thần sơn thuỷ từ Thuỷ Tổ Âu Cơ mà thành, giúp vua cha chiến thắng thuỷ thần, đánh dẹp ngoại bang xâm lấn bờ cõi, giữ vững ổn định biên cương Văn Lang; rồi từ khung cảnh đất nước thanh bình lại khuyên Hùng Duệ Vương nhường ngôi cho An Dương Vương lập nên nước Âu Lạc, dựng đô ở Cổ Loa thành, mở ra trang sử mới cho nền văn hiến Việt-một dòng truyền thuyết đầy tính nhân văn. Để rồi, Tản Viên Sơn Thánh mãi đi vào tâm khảm của quần chúng nhân dân và là một trong các vị thần được tôn vinh là “Tứ bất tử” ở Việt Nam.

          Để mãi mãi ghi nhớ công tích của Tản Viên Sơn Thánh, tại vị trí Ngài cho quân nghỉ chân sư Tăng Ất cho xây một miếu thờ, chính là hậu cung hiện nay, gọi là Miếu Thính.

          Năm Thành Thái thứ 13 (1902) triều Nguyễn, hậu cung được tu sửa nâng cấp. Năm Duy Tân thứ 5 (1911) dựng thêm lầu chuông và lầu trống, đến năm Khải Định thứ 2 (1917) mở rộng đền về phía trước thêm 7 gian tiền tế và năm Khải Định thứ 6 (1921) xây cổng, lát sân, dựng nhà hành lang... Như vậy trong khoảng 20 năm, việc xây dựng mới hoàn thành cho cấu trúc ngôi đền như hiện nay. Các việc xây dựng được ghi rõ trên tấm bia dựng năm Khải Định thứ 8 (1923) và bài văn của nhà sư Tăng Ất tại tấm bia dựng năm 1936 (hai tấm bia đều còn, dựng trước cổng đền).

          Trong khoảng diện tích 2000m2, khu đền có các công trình kiến trúc cơ bản gồm tiền tế 7 gian, hậu cung 7 gian nối nhau theo kiểu chữ “đinh”. Song song với hậu cung, hai bên có nhà hành lang, phía trước có sân lễ hội, ao đền, ngoài cùng có nghi môn ngoại ngăn cách không gian thờ tự trong một cảnh quan thanh tĩnh, mát mẻ với hàng cây cổ thụ gần trăm năm tuổi.

          Ngoài những giá trị nghệ thuật về kiến trúc, cổng đền được cấu tạo như kiểu tam quan, cổng vào đền kiến trúc kiểu hai tầng tám mái, toà tiền tế cũng được nâng mái theo lối “chồng diêm”, hai nhà hành lang tả, hữu nằm nối theo lầu chuông, trống như hai thân rồng chầu, tất cả đã tạo nên bố cục không gian kiến trúc tổng thể khá sinh động.

          Từ tiền tế trở vào, hậu cung gồm 7 gian, 9 cửa thờ đều có cửa võng đục chạm cầu kỳ, sơn son thếp vàng với các đề tài tứ linh (long-ly-quy-phượng) hoặc tứ quý (thông-cúc-trúc-đào). Mỗi lớp cửa là một tác phẩm điêu khắc độc đáo, mang phong vị riêng, cùng với kỹ thuật chạm lộng vô cùng tinh xảo đến từng chi tiết đã thể hiện sự tài hoa tuyệt mỹ về nghề chạm gỗ dân gian nửa đầu thế kỷ XIX.

          Còn có các bức chạm ở cốn mê, cốn nách, các bức phù điêu bằng gỗ khắc họa hình tượng văn quan, võ tướng, là những tác phẩm nghệ thuật quý hiếm và đặc biệt của di tích. Hai bức hình hoạ trên tường toà tiền tế cũng là những tác phẩm nghệ thuật hội hoạ đặc sắc, với tiền tài thiên nhiên cây cảnh ấp ôm, hoà quyện với mái cong ngôi chùa làng, ẩn hiện trong sương mờ khói toả chiều lam. Với bút pháp trữ tình, nghệ thuật dùng màu nước trên chất liệu vôi gạch mà những bức bích hoạ tồn tại cả trăm năm còn nguyên tươi màu sắc mới thấy hầu hết những giá trị văn hoá, giá trị nhân văn, giá trị truyền thống đáng trân trọng đến nhường nào.

          Đền Thính còn là một di tích cách mạng. Tại đây trong thời kỳ Đảng cộng sản Đông Dương hoạt động bí mật, đã diễn ra ba sự kiện quan trọng. Trong dịp lễ hội, Đền Thính (đêm giao thừa năm Tân Mùi 16/2/1931) một hội viên Nông Hội Đỏ cơ sở Bích Đại đã rải truyền đơn kêu gọi quần chúng phối hợp đấu tranh chống Pháp với công nông Nghệ Tĩnh. Ngày 21/2/1940, dưới hình thức khách hành hương về lễ Đền Thính, các cán bộ trong toàn tỉnh Vĩnh Yên đã về dự họp hội nghị do đồng chí Lê Xoay chủ trì để quán triệt chủ trương mới của Đảng và bàn biện pháp thi hành chỉ thị của xứ uỷ Bắc Kỳ.

Ngày 15 tháng 5 năm 1945, đồng chí Đinh Đức Thiện, Bí thư Ban cán sự tỉnh Vĩnh Yên đã triệu tập lãnh đạo Việt Minh hai huyện Bình Xuyên, Yên Lạc họp tại đây để triển khai cuộc tuần hành ngày 16 tháng 5 năm 1945 từ Tân Phong qua chợ Lồ, chợ Lầm để tuyên truyền Việt Minh.

Đền Thính-xã Tam Hồng cách trung tâm huyện lỵ Yên lạc khoảng 1km, được xếp hạng di tích cấp quốc gia năm 1992 là một trong những di tích đẹp, nơi ngưỡng vọng về bậc Tiên Thánh từ buổi bình minh nước Việt, mãi sống trong lòng người Việt.

 

Theo "Di sản Văn hóa Yên Lạc"

 

 

 

Ngày đăng: 20/02/2018
  • Tiêu đề *
  • Người gửi *
  • Email*
  • Nội dung bình luận*