Lịch sử phát triển huyện Yên Lạc

ĐẢNG BỘ YÊN LẠC LÃNH ĐẠO NHÂN DÂN CHUẨN BỊ VÀ TIẾN HÀNH KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP, GIẢI PHÓNG QUÊ HƯƠNG (10/1946 - 7/1954)

II. Chống địch càn quét, chiếm đóng, lập tề, giữ vững cơ sở kháng chiến (8/1949 – 11/1951)

Sau những thất bại liên tiếp, thực dân Pháp rơi vào thế bị động, lúng túng trên chiến trường Đông Dương. Để cứu vãn tình hình, tháng 5-1949, Chính phủ Pháp đã cử tướng Rơ-ve sang Đông Dương điều chỉnh lại chiến lược chiến tranh xâm lược, nhằm đánh chiếm, bình định toàn bộ đồng bằng và trung du Bắc Bộ.

Thực hiện kế hoạch ngày 18-8-1949, thực dân Pháp tập trung 3.000 quân cơ động, mở chiến dịch Canigu nhằm đánh chiếm toàn bộ tỉnh Vĩnh Yên và Phúc Yên bằng 4 mũi tiến công.

Mũi thứ nhất gồm tiểu đoàn 27, có cơ giới, pháo binh yểm trợ, từ Phủ Lỗ, theo quốc lộ chiếm thị xã Phúc Yên, Hương Canh.

Mũi thứ hai gồm lực lượng tiểu đoàn 29, từ Hạc Sơn (Sơn Tây) vượt sông Hồng, qua Cao Đại, theo quốc lộ 2 tiến vào thị xã Vĩnh Yên.

  Mũi thứ ba, 1 tiểu đoàn ngụy cơ động, từ thị xã Sơn Tây cùng cơ giới, pháo binh vượt sông Hồng vào Quảng Cư càn quét Nam Vĩnh Tường, Yên Lạc, tiến vào thị xã, nối thông từ Yên Lạc tới vị trí chiến lược Việt Trì.

Mũi thứ tư gồm 2 tiểu đoàn dù, đổ quân xuống Tam Dương, đánh úp bộ đội chủ lực, chặn đường rút của ta từ Vĩnh Yên lên căn cứ Lập Thạch.

Từ địa bàn Yên Lạc, 1 đại đội địch có xe tăng, xe lội nước hỗ trợ tấn công vào Liên Châu, Tam Hồng, Hiệp Lực, móc nối với bọn phản động đóng bốt tại Mai Khê, càn vào xã Thống Nhất. Ngày 20-8, địch tấn công vào Nguyệt Đức, Minh Tân hòng chụp bắt các đồng chí lãnh đạo vào cơ quan tác chiến của tỉnh đóng ở đây.

Ngày 1-9, từ Mai Khê địch càn vào xã Hi Sinh nắm những tên phản động trong công giáo, vây làng Yên Thư hòng chụp bắt cán bộ và du kích.

Ngày 1-10, đại đội địch từ Mai Khê, kéo lên đóng bốt ở Hi Sinh; thiết lập bộ máy tề ngụy, tổ chức hương dũng và tiếp tục mở nhiều trận càn vào Đinh Xá, Nguyệt Đức. Ngày 11-10, địch đánh chiếm Đại Tự, Cổ Nha, Minh Tân, Chi Chỉ, Vật Cách, Man Để... bắt thanh niên, đập phá, cướp bóc tài sản của dân.

Chỉ trong thời gian từ 18-8 đến tháng 10-1949, quân Pháp đã liên tục tấn công càn quét, chiếm đóng nhiều vị trí quan trọng ở Yên Lạc. Từ đây, Yên Lạc trở thành vùng bị địch chiếm đóng.

Trước sự tấn công điên cuồng của địch, Đảng bộ, quân dân Yên Lạc đã tổ chức nhiều trận chiến đấu, chặn bước tiến của chúng. Nhiều trận đánh ác liệt đã diễn ra. Quân dân Yên Lạc kiên quyết đánh lui nhiều cuộc càn của địch. Nổi bật là trận càn của địch. Nổi bật là trận chống địch càn vào Nguyệt Đức (20-8-1949). Quân dân Nguyệt Đức đã anh dũng chiến đấu 3 ngày đêm, đánh bật lực lượng lớn của địch gồm 2 tiểu đoàn và một đại đội cơ giới, có đại bác yểm trợ. Tiêu diệt 36 tên và làm bị thương nhiều tên khác. Mặc dù bị địch đốt cháy 137 ngôi nhà nhưng làng chiến đấu vẫn được giữ vững; đảm bảo an toàn cho các đồng chí cán bộ lãnh đạo của huyện và tỉnh.

Tại xã Hi Sinh, ngay sau khi địch đóng bốt nhưng chưa phòng bị kỹ, ngày 15-10-1949, 2 trung đội bộ đội địa phương Yên Lạc và dân quân du kích xã phối hợp với C92 bộ đội chủ lực bất ngờ tập kích bốt Hi Sinh. Cuộc chiến đấu kéo dài hàng giờ, ta đã tiêu diệt và làm bị thương nhiều
tên địch.

Ngay từ những ngày đầu càn quét Yên Lạc, quân địch đã vấp phải tinh thần chiến đấu ngoan cường của quân dân trong huyện. Nhiều trận càn của chúng bị đánh bật ra và chịu thiệt hại nặng nề. Song với dã tâm chiếm đóng toàn bộ địa bàn, tiêu diệt lực lượng kháng chiến của ta từ tháng 12-1949, địch đã mở nhiều cuộc hành quân càn quét vào tất cả các xã của Yên Lạc; đồng thời thiết lập ngay bộ máy tay sai tại những nơi chúng chiếm đóng. Đến cuối năm 1950, địch đã lập được nhiều ban tề trong huyện, kìm kẹp, khống chế nhân dân, cô lập, nhằm tiêu diệt lực lượng vũ trang, bắt cán bộ của ta. Chúng còn xây dựng hệ thống đồn bốt, tháp canh dày đặc, nhất là hệ thống tháp canh trên đê sông Hồng, kiểm soát nghiêm ngặt toàn bộ địa bàn Yên Lạc. Trong thời gian này, công tác lãnh đạo, chỉ đạo của Huyện ủy, Ủy ban bị động và lúng túng. Cơ quan lãnh đạo phải sơ tán; lực lượng vũ trang rút sang Nam Vĩnh Tường, ta chưa quan tâm đến nhiệm vụ bám đất, bám dân, xây dựng cơ sở đánh địch
lâu dài.

Trước tình hình trên, để đưa cuộc kháng chiến của nhân dân Yên Lạc tiếp tục đi lên, Huyện ủy xác định: Phá tề, trừ gian trở thành nhiệm vụ trọng tâm của Yên Lạc.

Trong điều kiện địch chiếm đóng, kìm kẹp, Đảng bộ vẫn đẩy mạnh củng cố lực lượng vũ trang làm nòng cốt cùng nhân dân phá tề, trừ gian. Thực hiện chủ trương của Trung ương Đảng về thành lập 3 thứ quân, coi trọng xây dựng bộ đội địa phương và phát triển dân quân du kích, tháng 10-1949, đơn vị bộ đội địa phương Yên Lạc ra đời mang tên Đại đội Trần Phú (phiên hiệu C478). Đại hội được thành lập trên cơ sở đơn vị du kích tập trung cơ động của huyện. Đảng bộ đã cử các đồng chí cấp ủy trực tiếp phụ trách; cán bộ đảng viên có năng lực đảm nhận công tác chính trị và chỉ huy chiến đấu. Đồng chí Khổng Nghĩa - Huyện đội trưởng trực tiếp làm Đại đội trưởng. Năm 1950, đội Phi Hổ (đội biệt động của huyện) gồm 16 đồng chí gan dạ, mưu trí, dũng cảm cũng được thành lập, có nhiệm vụ hoạt động ở vùng hậu địch theo phương châm: không chú trọng tiêu diệt nhiều mà chỉ diệt trọng điểm[1], chủ yếu phải nắm được dân để tuyên truyền, vận động phá tề, trừ gian.

Đảng bộ chủ trương phân tán bộ đội huyện, du kích thành từng tổ, kết hợp với cán bộ xã, dùng sức ép quân sự và phong trào quần chúng phá tề. Cán bộ, đảng viên và tổ du kích, bộ đội huyện không quản hi sinh, gian khổ, thâm nhập vào các cơ sở, vùng địch hậu, tuyên truyền vận động nhân dân chống, phá tề, không chịu lập tề, cảnh cáo, trừng trị bọn tay sai.

Quán triệt chủ trương của Huyện ủy, các chi bộ vận động cán bộ bám sát cơ sở, nhân dân, bám đất, bám làng, đấu tranh không để cho địch lập tề. Trước sức mạnh đấu tranh của nhân dân, trong thời gian đầu, kế hoạch lập tề của địch bị thất bại.

Năm 1950, địch mở nhiều cuộc hành quân càn quét, khủng bố, tiếp tục thực hiện âm mưu "tát nước bắt cá" trên quy mô toàn huyện. Từng toán quân địch tấn công vào các làng lùng bắt bộ đội, du kích, sục hầm bí mật bắt cán bộ, tàn sát các cơ sở quần chúng của ta. Chúng thường xuyên chà đi xát lại các làng chiến đấu, những nơi có lực lượng của ta. Một số cán bộ, đảng viên phải chạy ra vùng tự do Lập Thạch; một số cầu an, chùn bước không muốn đấu tranh, muốn lập tề để địch khỏi đánh phá. Nhân dân chạy giặc càn, một số chạy quanh trong huyện. Địch đến - dân chạy, địch đi, dân lại về; một số tản cư ra vùng tự do, một thời gian hết lương thực lại phải về làng đã bị địch tạm chiếm.

Diễn biến tình hình có nhiều bất lợi cho ta. Huyện ủy Yên Lạc đã kịp thời điều chỉnh việc chỉ đạo phong trào địa phương cho phù hợp, lấy đấu tranh chính trị, kinh tế là chủ yếu, đấu tranh quân sự hỗ trợ, vừa giảm bớt tổn thất, vừa không để mất dân, tiếp tục kháng chiến.

Thực hiện chủ trương của tỉnh Vĩnh Phúc[2], khi nào dân bị khủng bố, o ép không thể chịu được thì phải cho người của ta vào nắm các ban tề để giữ dân, tránh khủng bố. Các chi bộ đều cử những đảng viên chưa bị lộ (nhất là những đồng chí đã làm hào lý và đi lính cho Pháp, là tiểu thương...) ra lập tề. Lợi dụng sơ hở của địch, ta nắm được các ban tề; nắm được tình hình, âm mưu, thủ đoạn của địch, có kế hoạch lãnh đạo nhân dân đấu tranh hợp pháp với chúng. Do có chủ trương, phương thức chỉ đạo đấu tranh phù hợp, hầu hết các ban tề trong huyện đã làm việc theo sự hướng dẫn của ta: Làm chậm các kế hoạch xây đồn, bốt, tháp canh, đóng góp thiếu, nộp chậm nguyên vật liệu; cản trở địch bắt phu, bắt lính... (Những ban tề như vậy thường được gọi là Tề cứu quốc).

Đến cuối năm 1950, địch phát hiện được những hoạt động của ta. Cùng với tiến hành càn quét, khủng bố, chúng sử dụng những tên Quốc dân Đảng, Việt gian có nhiều nợ máu với nhân dân thay thế các ban tề cũ. Địch mở nhiều cuộc lùng sục, vây ráp những người bị nghi ngờ, khủng bố những gia đình tham gia kháng chiến.

Trước tình hình địch lập tề trừ gian, tề phản động ngày càng nhiều, Khu ủy Việt Bắc chủ trương tổng phá tề. Tỉnh ủy Vĩnh Phúc đã quyết định tiến hành chiến dịch tổng phá tề trong tháng 2 và 3-1950.

Thực hiện chủ trương của cấp trên, đồng thời căn cứ vào tình hình, đặc điểm của địa phương, Huyện ủy Yên Lạc đã họp với Ban chỉ huy Huyện đội và Công an huyện phân loại các ban tề, có đối sách phù hợp với từng loại.

Tề loại A: Là phản động, kiên quyết bắt, diệt những tên đầu sỏ.

Tề loại B: Loại lừng chừng, dùng sức ép quân sự và phong trào đấu tranh của nhân dân để giải tán.

Tề loại C: Có thể lợi dụng được.

Trong đợt phá tề năm 1950, Yên Lạc đã bắt một số tên đầu sỏ, gian ác; giải tán hầu hết các ban tề lừng chừng và vô hiệu hóa hoàn toàn hàng chục ban tề loại C.

Tuy giành được những thắng lợi quan trọng, nâng cao tinh thần quyết tâm kháng chiến của nhân dân nhưng trong khi thực hiện tổng phá tề, nhiều xã còn thiếu thận trọng, phá tràn lan; phân loại, xử lý tề không triệt để... Nhiều nơi không đủ cán bộ cốt cán bố trí ở lại giữ vững và phát triển phong trào. Sau đợt này, cơ sở của ta ở một số nơi bị thu hẹp; du kích, bộ đội, cán bộ xã phải rút bớt ra vùng tự do để sản xuất, làm kinh tế hỗ trợ cho bộ phận hoạt động trong vùng địch hậu.

Để khắc phục tình trạng đó, Huyện ủy Yên Lạc chủ trương khôi phục, củng cố cơ sở kháng chiến, phát động phong trào "thi đua lập công, phục hồi cơ sở". Huyện ủy yêu cầu những cán bộ bị "bật đất", lánh sang nơi khác bí mật trở về, cùng cán bộ trung kiên bám dân, gây dựng lại cơ sở. Ở nhiều xã, chi ủy đã động viên tinh thần xung phong của đảng viên, du kích thâm nhập vào các làng xóm, bám dân, phục hồi cơ sở. Các tổ 3 người được thành lập, vào hoạt động trong vùng địch hậu. Vượt qua mọi nguy hiểm, gian khổ, hi sinh, cán bộ, du kích, bộ đội huyện đã kiên trì vận động nhân dân vùng địch kiểm soát, tuyên truyền những thắng lợi của ta trong chiến dịch Biên giới (1950). Sự tuyên truyền vận động của cán bộ, đảng viên cùng những tin thắng trận ở nhiều nơi dội đến đã có tác dụng tích cực, động viên, nâng cao tinh thần quyết tâm kháng chiến của nhân dân, cơ sở kháng chiến được phục hồi. Nhiều gia đình cơ sở bị đích bắt bớ, tra tấn, đốt nhà... vẫn kiên quyết bảo vệ cán bộ, như bà Hiền (Đại Tự), cụ Dỵ (Yên Nghiệp), bà Thứ (Yên Tâm)...

Sau thắng lợi chiến dịch Biên giới, Đảng ta chủ trương đẩy mạnh cuộc kháng chiến, chủ động mở các chiến dịch lớn nhằm tiêu diệt sinh lực địch, phá kế hoạch bình định trung du, đồng bằng của chúng, phát triển chiến tranh du kích, mở rộng khu giải phóng xuống đồng bằng.

Bộ tổng tư lệnh đã quyết định mở rộng chiến dịch Trần Hưng Đạo từ ngày 26-12-1950 đến 17-1-1951. Hướng chủ yếu của chiến dịch là tỉnh Vĩnh Phúc.

Tỉnh ủy đã đề ra nhiệm vụ cho quân dân trong tỉnh là bộ đội địa phương tỉnh, huyện, dân quân du kích phối hợp với bộ đội chủ lực, đẩy mạnh hoạt động quân sự vùng địch hậu, củng cố, xây dựng cơ sở, phát triển chiến tranh du kích, thực hiện tốt mọi nhiệm vụ chuẩn bị chiến dịch...

Thực hiện nhiệm vụ của địa phương tham gia chiến dịch, Huyện ủy Yên Lạc chủ trương: Tích cực củng cố, phát triển cơ sở, đẩy mạnh phong trào du kích chiến tranh, trừng trị những tên phản động gian ác; lực lượng vũ trang huyện phá các tháp canh, tập kích vị trí địch, võ trang tuyên truyền, giải tán ngụy quyền ở những nơi ta có đủ điều kiện. Huyện thành lập các đội dân công tiếp tế cho chiến dịch, vận động nhân dân trở về vùng giải phóng.

Để phối hợp với chiến dịch Trần Hưng Đạo, các xã điều lực lượng đảng viên, du kích từ vùng tự do vào vùng địch hậu. Lực lượng vũ trang của huyện và các xã phối hợp với lực lượng của tỉnh luồn sâu vào hậu địch diệt các tháp canh, đồn bảo an của địch như: Cốc Lâm, Yên Quán (Bình Định), Đinh Xá, Vân Đài (Nguyệt Đức), Nhật Tiến (Liên Châu), bốt Giã Bàng (Tề Lỗ)... Trong các trận tập kích này, nhiều dân quân du kích chiến đấu rất dũng cảm, kiên cường. Tiêu biểu là đồng chí Nguyễn Văn Nhạc (Liên Châu). Sau trận đánh bốt Nhật Tiến, đêm 25-1-1951, trên đường giải tù binh ra vùng tự do, đồng chí Nhạc bị phục kích ở xã Đồng Văn, bị thương và sa vào tay giặc. Mặc dù bị địch tra tấn rất dã man song đồng chí vẫn không chịu khai báo. Để tỏ rõ tinh thần bất khuất, đồng chí đã móc vết thương ở bụng ra cho kẻ thù kinh hoàng, còn nhân dân thì vô cùng cảm phục.

Kết thúc chiến dịch, riêng lực lượng vũ trang Yên Lạc đã góp phần diệt và loại bỏ khỏi vòng chiến đấu nhiều tên địch; giải tán nhiều ban tề, phục hồi hàng chục cơ sở. Thắng lợi của chiến dịch Trần Hưng Đạo đã cổ vũ mạnh mẽ phong trào kháng chiến ở Yên Lạc.

Tham gia chiến dịch Trần Hưng Đạo, lực lượng vũ trang Yên Lạc trưởng thành thêm một bước về kỹ thuật, chiến thuật, phối hợp chiến đấu. Cán bộ, đảng viên và nhân dân trở về làng quê, khôi phục và phát triển sản xuất, phục hồi cơ sở, đưa cuộc kháng chiến tiếp tục tiến lên. Tuy nhiên, khi trở về tiếp quản vùng giải phóng, một số nơi đã phạm khuyết điểm: Chủ quan, công khai lực lượng, bộc lộ cơ sở, bị địch phát hiện, đánh phá.

Thực hiện chỉ thị của Liên khu ủy Việt Bắc và Tỉnh ủy Vĩnh Phúc, Huyện ủy Yên Lạc đã mở đợt hoạt động "Khuyếch trương thắng lợi của chiến dịch Trần Hưng Đạo"

Tháng 6-1951, bộ đội chủ lực tiếp tục mở chiến dịch Quang Trung, tiêu diệt bốt Mai Khê, một vị trí quan trọng trong khu vực của địch. Trong lúc địch hoang mang sau thất bại này, đại đội Trần Phú (Yên Lạc) và dân quân du kích các xã Nguyệt Đức, Trung - Kiên - Hà, Đại Tự cùng tiểu đoàn 64 (bộ đội tỉnh) đã đột nhập vào vùng địch tạm chiếm, diệt một số tên phản động đầu sỏ, có nhiều nợ máu với nhân dân như tổng Dành (Hồng Châu), sếp Thu (Đại Tự)... gây ảnh hưởng mạnh; nhân dân phấn khởi, bọn phản động run sợ; phục hồi 15 cơ sở kháng chiến.

Từ đầu năm 1951, thực dân Pháp tăng lực lượng ở Vĩnh Phúc, tiến hành đánh phá ác liệt địa bàn Yên Lạc. Chúng bắt dân rời bỏ làng xóm, ruộng vườn, lập "đại xã", thiết lập vành đai trắng ngăn chặn sự tấn công của chủ lực, khống chế phạm vi hoạt động của lực lượng vũ trang địa phương, ngăn cách Đảng với dân. Đồng thời thiết lập một hệ thống tháp canh, đồn bốt dày đặc dọc quốc lộ 2 và dọc đê sông Hồng suốt từ Toa Đen đến Lồ. Bốt hương dũng ở xã Hi Sinh được nâng lên thành bốt tổng dũng, cùng với quân Pháp đi càn nơi khác. Toàn huyện, địch lập 82 đồn bốt, tháp canh, đặc biệt là các tháp canh trên đê sông Hồng, bốt tây Minh Tân, bốt Trò - Yên Phương, khu tập trung trá hình Man Để... Tại các nơi địch kiểm soát, chúng củng cố lại chính quyền tay sai, làng nào cũng có ban tề, thành lập các tổ chức phản động; phát triển mạng lưới tề điệp, chỉ điểm khắp nơi. Chúng tăng cường bắt lính, thành lập "địa phương quân", tổ chức các đội "Trung niên giáo dục", "thanh niên thể thao" để lừa mị nhân dân, cài cắm chỉ điểm, phá cơ sở, bắt cán bộ nằm vùng của ta. Thâm độc hơn nữa, chúng khuyến khích các phần tử phản động ở Duy Tân, Minh Tân, đặc biệt là bọn phản động đội lốt tôn giáo ở xã Hi Sinh nổi dậy hoạt động, phá hoại kháng chiến. Chúng duy trì thường xuyên ở Yên Lạc 2.000 lính, 60 xe cơ giới, 4 pháo 75mm để chống phá ta.

Phong trào cách mạng Yên Lạc bước vào thời kỳ đặc biệt khó khăn. Cơ sở bị đánh phá, hầu hết cán bộ phải bật ra vùng tự do. Cơ sở của ta ở Bình Định bị tổn thất nặng. Một số đảng viên, quần chúng hoang mang, dao động. Làng Đông Mẫu, Đinh Xá... bị địch đốt phá đến nửa làng, nhiều người bị giết hại. Chiến tranh du kích và phong trào quần chúng suy giảm nghiêm trọng. Toàn huyện chỉ còn 3 xã Liên Châu, Hồng Châu, Thống Nhất và một số thôn cơ sở vẫn được giữ vững, du kích còn hoạt động. Cán bộ, đảng viên bị tổn thất lớn, lực lượng bám trụ còn rất mỏng. Trong khó khăn, nhiều cán bộ, đảng viên, du kích vẫn nêu cao tinh thần kiên cường, bất khuất, dũng cảm, hi sinh. Xã đội trưởng Liên Châu Phan Văn Trác bị địch bao vây trong nhà Ký Thụ đã chiến đấu đến viên đạn cuối cùng, bị thương nặng nhưng trước khi hi sinh còn hô khẩu hiệu, tin tưởng vào thắng lợi của cuộc kháng chiến (3-1951). Đồng chí Hiếu (xã Trung Kiên) - Ủy viên Ban Chấp hành phụ nữ huyện cùng bộ đội, du kích chiến đấu suốt mấy ngày với địch ở Đông Mẫu và đã anh dũng hi sinh. Đồng chí Trưởng, đồng chí Vệ đều là Huyện ủy viên bị địch phát hiện trong hầm bí mật đã chiến đấu hi sinh, không chịu để giặc bắt. Đồng chí Thục - chính trị viên xã đội Hồng Châu giữa vòng vây của địch, chiến đấu đến viên đạn cuối cùng, diệt 5 tên địch trước khi hi sinh...

Trước tình hình đó, các cấp ủy Yên Lạc đã mở đợt sinh hoạt chính trị, ổn định tư tưởng, tinh thần cho cho đảng viên. Huyện ủy kiên trì bám sát địa phương, động viên cán bộ, nhân dân giữ vững tinh thần đấu tranh.

Trước yêu cầu mới của cuộc kháng chiến chống Pháp, tháng 2-1951, tại Đại hội II của Đảng, Đảng ta quyết định ra hoạt động công khai và đổi tên là Đảng lao động Việt Nam. Đại hội đã quyết định đường lối, chính sách quan trọng để đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn. Thực hiện Nghị quyết của Đại hội Đảng, tháng 4-1951, Đảng bộ Vĩnh Phúc đã tiến hành Đại hội, thông qua chủ trương đẩy mạnh chiến tranh du kích, đẩy mạnh sản xuất, củng cố mặt trận thống nhất, đẩy mạnh công tác xây dựng Đảng, tổ chức phong trào học tập lý luận và cuộc vận động phê bình và tự phê bình. Tiếp đó, tháng 5-1951, Đại hội Đảng bộ Yên Lạc được triệu tập. Đại hội diễn ra trong 5 ngày từ ngày 24 đến 29-5. Tham dự có 35 đại biểu chính thức, 21 đại biểu dự thính, 3 đại biểu danh dự và 2 quần chúng cảm tình, đại diện cho 13 chi bộ xã, 2 chi bộ cơ quan, đơn vị vũ trang các ngành trực thuộc và Văn phòng Huyện ủy. Đại hội điểm lại tình hình Yên Lạc từ chiến dịch Trần Hưng Đạo đến tháng 5-1951; thông qua đề án công tác với nội dung chủ yếu: Củng cố khu du kích vững mạnh, phục hồi những cơ sở còn yếu hoặc mới bị vỡ; củng cố chi bộ, tổ chức quần chúng, chính quyền nhân dân; xây dựng lực lượng bộ đội địa phương, du kích xã về các mặt chính trị, kỹ thuật chiến đấu, trang bị...

Đại hội đã bầu Ban Chấp hành mới gồm 9 đồng chí (7 chính thức, 2 dự khuyết). Đồng chí Dương Đức Lâm - Tỉnh ủy viên trực tiếp làm Bí thư.

Sau Đại hội Đảng bộ huyện, các chi bộ cũng lần lượt tổ chức Đại hội nhằm quán triệt chủ trương mới của Đảng xây dựng kế hoạch đưa cán bộ, đảng viên trở về hậu địch giữ vững cơ sở, tiếp tục chiến đấu; đẩy mạnh công tác xây dựng lực lượng vũ trang. Mỗi thôn đều xây dựng được 1 tổ hoặc tiểu tổ du kích. Huyện ủy Yên Lạc đã tổ chức cho cán bộ trở về địa phương, vượt qua muôn vàn thử thách, khó khăn gây dựng lại cơ sở, lãnh đạo nhân dân đấu tranh công khai với địch, chống bắt phu, bắt lính, đòi miễn giảm thuế. Nhiều cán bộ phải nằm hầm, có hầm ngập nước nhiều ngày, chịu đói, chịu khát để bám đất, bám dân.

Mặc dù kháng chiến ở Yên Lạc đang trong thời kỳ đặc biệt khó khăn, phải đấu tranh giành giật với địch từng ngõ xóm, từng người dân nhưng Huyện ủy vẫn quan tâm lãnh đạo nhân dân đẩy mạnh sản xuất, ổn định đời sống, đóng góp nhân lực, vật lực cho kháng chiến; vận động nhân dân về quê tiếp tục sản xuất, bà con nơi sơ tán tích cực khai hoang, phấn đấu cấy hết diện tích, gắn liền sản xuất với đấu tranh bảo vệ sản xuất, chấp hành triệt để Sắc lệnh thuế nông nghiệp do Chính phủ ban hành ngày 15-7-1951. Huyện còn vận động hàng trăm người đi dân công (riêng Nguyệt Đức hơn 50 người) vận chuyển lương thực từ vùng địch hậu ra vùng tự do phục vụ yêu cầu kháng chiến [3].

Để nâng cao năng lực lãnh đạo kháng chiến, Đảng bộ Yên Lạc đã tiến hành xây dựng, củng cố Đảng cho phù hợp với hoàn cảnh chiến tranh ác liệt.

Thực hiện chủ trương của Đảng, Đảng bộ huyện Yên Lạc tạm ngừng phát triển Đảng, tiến hành củng cố tổ chức Đảng, mở các đợt học tập lý luận cho cán bộ, đảng viên; cử hàng trăm cán bộ, đảng viên đi học các lớp bồi dưỡng do Tỉnh ủy mở. Thực hiện phê và tự phê bình nghiêm túc. Trên cơ sở nhận xét, đánh giá quá trình thực hiện nhiệm vụ kháng chiến, Đảng bộ kiên quyết loại những phần tử yếu kém, chạy dài, không đủ năng lực ra khỏi Đảng. Có những chi bộ đã kỷ luật tới 70% đảng viên. Đặc biệt là từ sau Đại hội Đảng bộ tháng 5-1951, các chi bộ, chi ủy và các ban Huyện ủy đều được củng cố lại.

Tổ chức Đảng được củng cố, giác ngộ chính trị được nâng cao, tính tiên phong gương mẫu của đảng viên được phát huy, Đảng bộ Yên Lạc vững vàng bước vào thời kỳ mới - đẩy mạnh cuộc kháng chiến đến thắng lợi cuối cùng

 

 

[1] Theo hồi tưởng của đồng chí Khổng Nghĩa (Huyện Đội trưởng Yên Lạc, hoạt động ở Yên Lạc từ 1947 -1951). Đội đã thủ tiêu một số tên chỉ điểm, phản động, có nhiều nợ máu với nhân dân.

[2] Theo quyết định của Chính phủ, ngày 12-2-1950, tỉnh Vĩnh Yên, Phúc Yên hợp nhất thành tỉnh Vĩnh Phúc. Đảng bộ huyện Yên Lạc trực thuộc Đảng bộ tỉnh Vĩnh Phúc.

[3] Lịch sử Đảng bộ huyện Vĩnh Lạc, T.1, XB1988: tính đến cuối năm 1951, huyện Yên Lạch cùng với Vĩnh Tường đóng góp 140 tấn lương thực và 52.427 đồng Đông Dương cho Nhà nước; để lại 18,5 tấn lương thực ở địch hậu để nuôi cán bộ, bộ đội du kích.

 

Theo: Lịch sử Đảng bộ huyện Yên Lạc 1930 - 2015

 

 

Ngày đăng: 09/04/2016
  • Tiêu đề *
  • Người gửi *
  • Email*
  • Nội dung bình luận*